Do cơ động nhanh địch có thể tập kích nhanh và bất ngờ vào các mục tiêu nhỏ ở hận phương gần của ta. Trong tác chiến hành quân và trú quân ta cần có kế hoạch sẵn sàng, đánh địch tập kích trực thăng vận, cần có kế hoạch tổ chức bảo vệ hậu phương, bảo vệ vận chuyển, thương binh. Các toán đi lẻ tẻ cần trang bị vũ khi có thể đánh địch. Cần tổ chức hệ thống quan sát, trinh sát nắm chắc hoạt động địch. Từ đại đội trở lên phải tổ chức vọng quan sát kể cả lúc trú quân và tác chiến.
c) Đổ bộ tập kích quy mô tương đối lớn vào hậu phương, tương đối sâu, thời gian tương đối dài (Chu Pong, Ia Drang từ 14-19-11-65).
- Binh lực xử dụng I Lữ Đoàn không vận tăng cường gồm chừng 4đ không vận: dI-e7, d2-e7, dI-e5, Ic-d2-e3 (có thể cả de-e3, Iđ pháo 105 và 155 ;y, I Trung đoàn máy bay trực thăng (e9 trực thăng thuộc fI không vận) được không quân kể cả B52 chi viện mạnh.
-Mục đích: tập kích sâu vào hậu phương ta nhằm tiêu diệt hoặc tiêu hao I bộ phận lực lượng ta, đánh phá hành lang kho tàng, trinh sát phaát hiện mục tiêu dùng pháo binh và không quân oanh tạc quy mô hơn..
- Bố cục và hành động: Sau khi đổ bộ Lữ 3 hình thành 3 cụm chiến đấu – Tiểu đoàn và một cụm pháo binh (trận địa pháo): cụm d1 e7 ở đông Chu Pong 02-09, cụm d1-e5 ở tây Ba Bỉ 06-95, trận địa pháo binh và phân đội bảo vệ pháo ở tây Quênh Kla 06-00, 08-98, 06-02.
-Ghi chú: Do đó khả năng cơ động cao (chủ yếu nói về vận chuyển bằng TT) nên có thể tập kích nhanh chóng và bất ngờ vào bên sườn và hậu phương sâu của ta (còn khả năng cơ động đổ bộ ở mặt đất rất kém).
II - Vài hành động chiến thuật
a) Trước khi đổ bộ.
Bãi hạ cánh (ở địa hình rừng núi Cao Nguyên)
- Khi đổ bộ tập kích nhỏ, bãi hạ cánh không quân cần rộng, có thể hạ xuống rãy nhỏ, đỉnh đồi hoặc sườn đồi dốc chừng 15 độ; chiều rậng trên dưới 30 mét đã có thể xuống được như đã đổ bộ xuống rẫy làng Quênh Xom, đỉnh đồi cao điểm 475).
- Khi đổ bộ Tiểu Đoàn cần có rẫy tương đối lớn, bãi cỏ tranh (cao ngập đầu cũng xuống được), bãi trống giữa rừng hoặc thung lũng. Chiều rộng bãi, hạ cánh trên dước 200 mét. Nơi đổ bộ thường chọn gần ngay đường mòn ven rừng (Plei The, đông Chu Pong, ngã ba Bả Bì). Địch không dựa vào nguần nước mà chủ yếu tiếp tế nước bằng trực thăng.
c) Đổ bộ.
- Tập kích nhỏ mỗi đợt có thể xuống từ 2 đến 6 trực thăng, có khi hạ từng chiếc. Đổ bộ lớn, mỗi đợt hạ cánh từ 2 đến 5 phút rồi lên ngay. Máy bay có thể hạ cánh xuống đất hoậc bay là mặt đất chừng I đến 2 mét cho lính nhảy từ máy bay xuống đất.
- Đổ bộ có từ 2 đến 4 trực thăng vũ trang chi viện. Đổ bộ lớn có thêm khu trục và phản lực bay trên không phận chi viện. Đội hiành trực thăng bay theo một hàng dọc hoặc 2 hàng dọc. Có khi bay thẳng đến mục tiêu hạ cánh (đổ bộ nhỏ) hoặc lượng ở hướng khác để ngụy binh rồi mới quay đến mục tiêu đổ bộ cánh (đổ bộ lớn).
Đổ bộ nhỏ được yểm trợ bởi 2-4 trực thăng vũ trang. Đổ bộ lớn được yểm trợ bởi phi cơ chiếm đấu và phi cơ phản lực. Các đội hình bay xử dụng bởi trực thăng là một hay 2 hàng. Trong đổ bộ nhỏ, các trực thăng bay thẳng tới các mục tiêu. Trong đổ bộ lớn chúng thường lơ lửng trên một vùng khác trước khi bay tới các mục tiêu.
Biệt Cách Dù ngụy hay các đơn vị thám sát Mỹ luôn đổ bộ trước để giữ an ninh bãi đổ bộ trước khi bộ binh, đơn vị yểm trợ và sở chỉ huy đổ bộ.
d) Sau khi đổ bộ quân.
- Ngay sau khi đổ bộ, địch có thể tấn kích ngay tức khắc vào mục tiêu: ruồng bắt các nhóm bộ đội cô lập của ta, phá hủi các trạm thông tinh của ta, các trạm cứu thương. Hai lần, chúng tấn kíck vào tiểu đoàn 2 thuộc trung đoàn 33 ngày 6 tháng 11 và tiểu đoàn 9 ngày 14 tháng 11.
- Chúng có thể di chuyển vào các vị trí ngăn chận hay vào quanh các trục dẫn đến hậu cứ của ta (Kuenh Xom, Lang Ga, Đồi 475).
- Chúng luôn thiết lập các vị trí, hoặc khi phục kích hay khi phòng thủ, gần bãi đổ quân để dễ tiếp vận và rút lui.
- Biệt Cách Dù ngụy thường tiến xa tuần tiễu.