- Coi bộ lần này địch quân không vội vàng như trước với những cuộc tấn công chớp nhoáng rồi tháo lui. Hình như chúng tìm cách buộc các lực lượng của chúng ta đến giải cứu và chúng có hai mục tiêu, trước là nhắm vào đoàn quân tiếp cứu, thứ đến là trại. Điều này sẽ hiến cho chúng một con mồi to lớn hơn và có nhiều cơ may thành công hơn nhờ vào tập trung được một lực lượng to lớn hơn.
- Phía mình lấy quyết định chấp nhận trò chơi của địch. Vì lẽ chúng dự tính loại dần các lực lượng của ta, kế hoạch điều quân phải xử dụng tối đa đến yếu tố thời gian và đồng thời khai thác yếu điểm của địch quân trong thế điều quân của chúng.
- Qui tụ một Chiến Đoàn Đặc Nhiệm (CĐĐN) bộ binh thiết giáp tiếp cứu bao gồm: Ban Chỉ Huy Trung Đoàn Thiết Kỵ, một Tiểu Đoàn Biệt Động Quân, một Đại Đội Thiết Vận Xa M-113, một Đại Đội Xe Tăng M-41, một đơn vị Pháo Binh và một Trung Đội Công Binh.
- 1800 giờ, CĐĐN tụ họp tại vùng tập trung và đóng trại qua đêm.
- Các phi đội Eagle Flights thuộc Air Cavalry Division xung trận. Từ hừng đông đến chập tối, các phi đội này không ngừng bay trên vùng lùng kiếm địch quân. Mọi nơi nghi ngờ có sự hiện diện của địch đều được chu đáo kiểm tra và ứng xử, hoặc với các cuộc oanh kích hoặc với chính hỏa lực của phi đội, để đánh tan và phá vỡ ra từng mảnh nhỏ và như vậy không cho phép địch quân lẩn trốn.
Ngày 28 tháng 10 năm 1965
- Đem Chiến Đoàn Thủy Quân Lục Chiến tới bằng không vận từ Ban Mê Thuật để giữ an ninh trên Tỉnh Lộ 5 cho việc triệt thoái của CĐĐN.
- Ra lệnh cho Trung Tá Luật đưa CĐĐN ra khỏi trại Pleime và trở về Pleiku, vì không còn ghi nhận được bóng dáng địch quân quanh trại sau công cuộc càn quét.
- Trên đường tháo lui, CĐĐN của Trung Tá Luật không gặp một đối kháng nào ngoài 6 mìn chống chiến xa được tháo gỡ.
- Thế là hành quân Dân Thắng 21 chấm dứt với 400 thương vong phía địch quân.
Ngày 29 tháng 10 năm 1965
- Thu xếp để cho các toán LLĐBD VN tháp tùng các toán Eagle Flights để trợ lực các quân lính mới tới của US 1st Air Cavalry.
- Rất nhiều tàn quân Việt Cộng bị bắt qua chiến thuật của Eagle Flights.
- Khảo cung Trung Sĩ Việt Cộng Nguyễn Xuân Tiến.
Ngày 30 tháng 10 năm 1965
- Khảo cung sơ khởi ba quân lính Việt Cộng qui hàng.
- Tiểu Đoàn 5 thuộc Trung Đoàn 33 bị tiêu diệt gần hết sau cuộc giao tranh xảy ra tại phía bắc sông Ia Meur: 77 chết (đếm được xác), gần 400 tên khác phỏng chừng chết hay bị thương.
Ngày 7 tháng 11 năm 1965
- Tới giờ phút này, 1st Brigade thuộc 1st US Air Cavalry Division trong cuộc hành quân 'All The Way' trải rộng một vùng khoảng 2500 cây số vuông đã giáng một cú thoi sơn vào đầu các đơn vị Việt Cộng trên đường rút lui, nhưng trong các cuộc đụng độ, vẫn không thấy vết tích liên quan đến Trung Đoàn 32. Tuy số thương vong Việt Cộng lên tới 1500 quân lính, gồm cả số thương vong trong đợt đầu, thêm một trung đoàn - Trung Đoàn 66 - đã được bổ sung vào trận địa.
- Phỏng chừng các đơn vị của Trung Đoàn 32 đã chuồn mất về hướng đông.
- Thẩm vấn Hoàng Thế U, thuộc TĐ 8 Trung Đoàn 66.
- Thẩm vấn Trung Sĩ Phạm Sâm, thuộc Đại Đội Truyền Tin, Trung Đoàn 101B.
Ngày 8 tháng 11 năm 1965
- Đề nghị khái niệm chuyển hướng hành quân đi ngược hướng rặng núi Chu Prong để đánh lừa Bộ Tư Lệnh Mặt Trận B3. Sáng kiến này được chuyển đạt tới Tướng Kinnard qua ngã Tướng Larsen, Tư Lệnh I Field Force VN.
Ngày 9 tháng 11 năm 1965
- 1st US Air Cavalry bắt đầu di chuyển quân từ phía tây sang phía đông
(đi xa khỏi rặng núi Chu Prong ).
- Đây là thế nghi binh nhằm khiến địch tưởng là các lực lượng phe ta đã đánh mất dấu vết các đơn vị địch, nhưng kỳ thật ra - chúng ta biết được qua các cuộc thẩm vấn tù binh và báo cáo nguồn tin tình báo - địch tập trung trong vùng Chu Prong-Ia Drang: (1) ba tiểu đoàn của Trung Đoàn 66 trải dài dọc theo bờ phía bắc sông Ia Drang; (2) Trung Đoàn 32 cũng đóng quân phía bắc trong cùng chung vùng với Trung Đoàn 66; và
(3) Trung Đoàn 33 đóng chốt tại các vị trí gần bên làng Anta (danh xưng của Việt Cộng), phía đông dãy núi Chu Prong.
Ngày 10 tháng 11 năm 1965
- US 3rd Brigade thay thế US 1st Brigade.
- Hành quân All the Way chấm dứt, hành quân Silver Bayonet khởi sự.
Ngày 11 tháng 11 năm 1965
- Đọc báo cáo các thẩm vấn tù binh và hàng binh Việt Cộng cho thấy Bộ Tư Lệnh Dã Chiến Việt Cộng đã lấy quyết định "tấn công đợt hai Pleime". Ngày tấn công được ấn định là ngày 16 tháng 11. Tất cả ba trung đoàn sẽ được xung vào lần này cùng với đơn vị bích kích pháo 120 ly và một tiểu đoàn súng phòng không 14.5 ly hai nòng, cả hai đơn vị này đang trên đường xâm nhập và dự tính sẽ tới kịp cho cuộc tấn công. Theo lời tuyên bố của viên sĩ quan ủy viên chính trí qui hàng, kế hoạch của cuộc tấn công mới sẽ chính yếu là triệt hủy trại Pleime.
- Đích thân gặp Tướng Kinnard tại doanh trại An Khê để thảo luận về ngày N tấn công của địch quân và phác họa kế hoạch cùng với Bộ Tư Lệnh 1st US Air Cavalry
nhằm đánh phủ đầu địch quân ngay trong lòng địch trước ngày N (16/11).
- Hàng binh Việt Cộng Thiếu Úy Bùi Văn Cường, sĩ quan ủy viên chính trị, đại đội truyền tin, Trung Đoàn 33 ước tính là Trung Đoàn 33 của đương sự đã mất 40 phần trăm lực lượng khởi thủy 2200 quân, với một mất mát 60 phần trăm trong số 150 quân và 13 súng phòng không trong đại đội súng phòng không. Con số này đặc biệt quan trọng đối với Bộ Tư Lệnh 1st US Air Cavalry vì đại đơn vị này thi hành trực thăng chiến.
Ngày 12 tháng 11 năm 1965
- US 3rd Air Cavalry Brigade tiếp tục dùng thế nghi binh bằng cách hành quân từ phía tây chuyển qua phía đông, đi xa khỏi rặng núi Chu Prong và tiến tới gần trại Pleime.
Ngày 13 tháng 11 năm 1965
- Báo cáo tình báo từ các toán LLĐBD VN cho biết là các quân lính Việt Cộng tại vùng Chu Prong-Ia Drang có vể nhởn nhơ trong khi chuẩn bị cho cuộc tấn công đợt hai vào trại Pleime.
- Bộ Tư Lệnh QĐ II và Bộ Tư Lệnh US 1st Air Cavalry đồng ý ra tay tấn công địch quân trước ngay tại cửa ngõ rặng núi Chu Prong, ấn định vào ngày mai.
Ngày 14 tháng 11 năm 1965
- 1200 giờ, trực thăng đổ quân của 3rd Air Cavalry xuống bãi đáp X-Ray, cách trại Pleime khoảng 25 cây số, tại phía đông chân rặng núi Chu Prong.
- Sau 20 phút chuẩn bị bãi với hỏa pháo và 30 giây hỏa lực trực thăng chiến đấu, Tiểu Đoàn 1/7 Không Kỵ bắt đầu đổ bộ. Tiểu Đoàn Trưởng TĐ 1/7 là Trung Tá Harold G. Moore.
- Coi bộ thế nghi binh có hiệu quả: địch không có phản ứng tại bãi đáp X-Ray. Trách vụ an ninh bãi đáp được giao phó cho Đại Đội A, và Đại Đội B được lệnh tung ra lùng kiếm địch quân.
- Hai tiểu đoàn được lệnh ra cách xa 3 cây số khỏi bãi đáp, Tiểu Đoàn 2/7 theo hướng bắc và Tiểu Đoàn 2/5 theo hướng tây bắc đi tới bãi đáp Albany.
- Việc di chuyển này dựa theo ước tính là địch đã rút lui về hướng đó, coi bộ nhằm tấn công vị trí pháo binh tại bãi đáp Albany từng yểm trợ hữu hiệu Tiểu Đoàn 1/7 trong hai ngày qua.
- Báo cho Ban Chỉ Huy Lữ Đoàn Dù là cuộc hành quân mang tên Thần Phong 7 sẽ chỉ được hỏa lực pháo binh yểm trợ từ bãi đáp Crooks và bãi đáp Columbus và Ban Chỉ Huy sẽ cần tới sự trợ giúp của một viên Cố Vấn Mỹ để gọi pháo khi cần.
Ngày 18 tháng 11 năm 1965
- Sáng sớm, các phi cơ vận tải khổng lồ của C130's Squadron thuộc 7th US Air Force không vận toàn bộ Lữ Đoàn Dù từ bốn phi trường đến phi trường Pleiku nội trong vài tiếng đồng hồ.
- Trung Tá Ngô Quang Trưởng, Tham Mưu Trưởng của Tướng Du Quốc Đống, được chỉ định chỉ huy cuộc hành quân.
- Nhận thấy Trung Tá Trưởng chọn Thiếu Tá Schwarzkoft làm cố vấn cho lữ đoàn. Nhớ thấy anh chàng này tại cuộc giải tỏa trại Đức Cơ; anh ta dám cự nự Tướng Vĩnh Lộc và bênh vực Thiếu Tá Nghị, Chiến Đoàn Trưởng Chiến Đoàn 1 Dù, từ chối tấn công khi không có đủ thì giờ chuẩn bị đầy đủ cho công cuộc giải tỏa trại. Anh ta ăn nói giống tài tử John Wayne, tốt bụng và đáng tin cậy.
- Thuyết trình về Thần Phong 7 cho toàn ban Chỉ Huy Lữ Đoàn. Báo cho Trung Tá Trưởng biết là sẽ được sự yểm trợ của pháo binh thuộc 1st US Air Cavalry đặt tại bãi đáp Crooks và bãi đáp Columbus và của các toán LLĐB Dù VN xâm nhập sâu trong lòng địch. Đặc biệt là chỉ điểm cho Trung Tá Trưởng thung lũng nhỏ hẹp của sông Ia Drang mà hai tiểu đoàn sống sót Việt Cộng sẽ xử dụng để chuồn về Căm Bốt.
- Sứ mạng của Lữ Đoàn Dù là triệt hủy các đơn vị tẩu tán Việt Cộng và các cơ sở của chúng quang thung lũng Ia Drang.
- Mọi nỗ lực mấy ngày cuối đây - thả bom B52, điều quân của các đơn vị US 1st Air Cavalry - đều nhằm đưa đẩy các đơn vị Việt Cộng còn lại về con đường đào tẩu cuối cùng của thung lũng nhỏ hẹp Ia Drang.
- 1500 giờ, Ban Chỉ Huy Chiến Đoàn 1 Dù, các Tiểu Đoàn 3, 5, 6 Dù được trực thăng vận đến địa điểm (84,09), phía bắc sông Ia Drang.
- Tiểu Đoàn 3 Dù lập tức càn quét theo hướng tây tiến tới Plei The.
- Tiểu Đoàn 6 Dù cũng càn quét theo hướng tây nhưng hơi về phía nam song song với hướng tiến quân của Tiểu Đoàn 3 Dù nhắm tới Plei Leo.
- 1350 giờ, toàn thể Lữ Đoàn Dù hiện diện tại địa điểm (82, 08) vùng tập trung quân và được lệnh vượt sang phía nam sông Ia Drang, và leo núi lên tới đỉnh tại (81,06).
Ngày 23 tháng 11 năm 1965
- 1115 giờ, Trung Tá Trưởng và lữ đoàn dù tới địa điểm (81,06), và thảo kế hoạch lập ổ phục kích địch quân tại thung lũng eo hẹp phía nam bờ sông Ia Drang.
- Sau khi không còn đụng độ với địch quân, Lữ Đoàn Dù được lệnh tháo lui ra khỏi vùng hành quân, chấm dứt đợt ba của Trận Chiến Pleime.
Ghi chú: Nhật ký này được tái tạo từ chính lời văn của Đại Tá Hiếu lẩy từ Why Pleime. Thật ra phương thức này đi ngược chiều điều gì Đại Tá Hiếu đã làm, khi để thảo bản tường trình sau trận đánh Pleime, Đại Tá Hiếu đã tham khảo những điều ghi chép trong nhật ký để có được các dữ kiện, các ngày giờ và những suy tư của mình trong khi trận đánh đang tiếp diễn. Đại Tá Hiếu có thói quen ghi chép nhật ký, ngay cả khi còn là một trang thanh niên trước khi tòng quân; cụ Hướng đã khám phá mối tình thầm kín của cậu con trai khi đọc mấy trang nhật ký của con trai để trên bàn viết; thân phụ Tướng Hiếu cũng đọc được những hàng chữ cuối cùng ghi chép trong cuốn nhật ký, sau khi Tướng Hiếu gọi điện thoại cho vợ căn dặn "đừng để các con chơi ngoài đường"; Đại Tá Lê Khắc Lý, Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn 22, nói: "Tướng Hiếu luôn mang theo một cuốn sổ để trong túi áo. Mỗi lần ra lệnh ngoài chiến trường, Tướng Hiếu luôn ghi chép lệnh vào trong cuốn sổ."