![]() Dẫn Nhập – Phản ứng của Tướng Schwarzkop đối với khái niệm hành quân trong cuộc Pleime Phản Công vào mật khu Chupong Iadrang. Cũng như ông thán phục khái niệm hành quân thần sầu của Trung Tá Ngô Quang Trưởng trong việc thiết lập ổ phục kíck trong cuộc hành quân Thần Phong 7:
Tướng Schwarzkopft cũng sẽ phải thán phục trước khái niệm hành quân khác thường của Đại Tá Hiếu trong việc thiết lập ổ phục kích trong cuộc Pleime Phản Công vào Mật Khu Chupong-Iadrang:
Quả thật vậy, chẳng có gì là thất thường trong khái niệm hành quân trong trường hợp của Tướng Hiếu cả. Tướng Hiếu nhận thấy chiến thuật kiểu Đại Bàng Xà Xuống bắt mồi chỉ hữu hiệu nếu con mồi là con cừu con chậm chạp, nhưng lại không công hiệu trong trường hợp những con cáo già Việt cộng nhanh chân lủi trốn trong các bụi rậm. Tướng Hiếu nghiệm thấy nhị thức Bộ Binh-Thiết Giáp thích hợp cho trận chiến Việt Nam hơn, công hiệu hơn để lùa chận đánh mấy đàn cáo già Việt cộng chuyên lủi trốn . V́ vậy khi vừa về nắm Sư Đoàn 5, Tướng Hiếu, theo lời thẩm định của Đại Tá Cố Vấn Trưởng Mỹ John Hayes, liền biến Trung Đoàn Thiết Kỵ từ vai tṛ thụ động "Ngự Lâm Lính Kiểng" thành công cụ tấn công mănh liệt. Trong thời gian trước khi đem Tướng Hiếu về Sư Đoàn 5, Tướng Trí, vốn gốc Dù, chuyên dùng chiến thuật "Xà Điểu" bốc thả chớp nhoáng các toán lính Dù khắp cùng Vùng 3 Chiến Thuật, gây nên được nhiều chiến tích, nhưng không mấy to lớn. Thoạt đầu chiến thuật này có vẻ thành công, nhưng không mấy chốc bị mấy con cáo già địch quân vô hiệu hóa, khi chúng học khôn nhanh chân lủi trốn trước khi trực thăng vừa xuất hiện tại chân trời. Do đó Tướng Trí đă ngả theo sáng kiến của Tướng Hiếu và chuyển sang áp dụng chiến thuật "bủa vây", dùng nhị thức Bộ Binh-Thiết Giáp nhiều hơn, nhất là trong các cuộc hành quân vượt biên. Chẳng phải chúng ta đang chứng kiến một phép ..., không đúng hơn là hai phép phất tay của một thiên tài quân sự, vì cả hai cùng là hành động của Đại Tá Hiếu: - trường hợp thứ nhất là lùa hai tiểu đoàn vào trong một hành lang eo hẹp trong thung lũng Ia Drang qua thế điều quân của Lữ Đoàn Dù và - trường hợp thứ hai lùa ba trung đoàn trong một vùng rộng lớn của mật khu Chupong-Iadrang trải dài từ trại Pleime đến rặng núi Chupong qua thế điều quân của Sư Đoàn 1 Không Kỵ Mỹ 1. Yếu Tố Tình Báo. Ngõ hầu thực hiện khái niệm hành quân theo hoạch định, điều tiên quyết là khả năng biết rõ chính xác thời điểm và vị trí khi ba trung đoàn tụ tập lại, không trước không sau, để trở thành mục tiêu thích hợp cho B-52 không tập. Đại Tá Hiếu có khả năng này. Ông có thể chấm điểm các di chuyển của bản doanh của ba trung đoàn trên lộ trình qui tục về mật khu Chupong-Iadrang, khi họ vận hành và khi họ dừng chân, nhiều khi còn biết rõ các cán bộ đang làm gì: họp hành để giải quyết vụ gián điệp nằm vùng, điểm danh số, thẩm định các tổn thất, hoạch định cho cuộc tấn công lần thứ hai, tái tổ chức các đơn vị chiến đấu, thao luyện và tập dượt, ấn định ngày tấn công, tình trạng ứng chiến, địa điểm tập trung, địa điểm xuất quân, thời điểm phân tán. Đại Tá Hiếu có trong tay nhiều nguồn tình báo khác nhau: các toán trinh sát Thượng Eagle Flights và Biệt Cách Dù, các cung từ của các tù binh/hồi chánh viên/đào ngũ Việt Cộng, các thông tin địch do đái kiểm thính chận thâu được. Cộng thêm các báo cao ra đa và hồng ngoại tuyến từ các dò thám không quân và các tiểu đội điềm chỉ mục tiêu và Đơn Vị Kiểm Thính Rađiô từ Sư Đoàn Không Kỵ 1 Mỹ. Trong số các nguồn tình báo vừa liệt kê, các chận bắt thông tin địch giữa các Cố Vấn Tàu tại cấp trung đoàn và trung ương của các đài kiểm thính là chính yếu cho các tin tình báo cập nhật. Đại Tá Hiếu chỉ biết những điều các Cố Vấn Tàu thảo luận với nhau, và họ nói rất nhiều, hầu như mọi sự ... Khi họ ngưng nói, Đại Tá Hiếu buộc phải căn cứ vào các báo cáo tình báo với các dữ kiện không mấy cấp nhật từ các nguồn tình báo khác. Khi các nhân viên tình báo của Sư Đoàn 1 Không Kỵ hỏi làm sao mà Ban2/Quân Đoàn II lại có được các tin tức tình báo quá chính xác vậy đến độ khiến địch nghi là là gián điệp lồng trong hàng ngũ họ, câu trả lời là “chúng tôi có điệp viên đặb biệt”. Những “điệp viên đặc biệt” vô tình này chẳng qua là các Cố Vấn Tàu bàn thảo với nhau cách bất cẩn về mọi vấn đề: tiếp vận, vị trí, tinh thần binh sĩ, ý đồ và kế hoạch, trận liệt, vân vân... Tướng Montgomery liên tục bị Tướng Rommel, con chồn sa mạc, đánh bại cho đến ngày ban tình báo phá mở được mật mã của quân Đức và đánh bại Tướng Rommel vô song địch trong sa mạc Sahara nhờ vào các thông tin giữa các đơn vị quân Đức bị các đài kiểm báo Đồng Minh bắt chận và giải mã. Thật là hoàn toàn may mắn mà Đại Tá Hiếu thủ đắc được tin tức tình báo vững chắc trong việc thi hành khái niệm hành quân của mình. Nếu không có được như vậy thì chắc chắn là sẽ phải thất bại. Do vậy, hầu như là không thể nào lập lại được chiến tích này: lùa ba trung đoàn địch vào một địa đi3̉m và tiêu diệt chúng với oanh tạc B-52. Trong cuốn Pleime, cuộc chiến lịch sử, trang 94, Đại Tá Hiếu nói rõ ràng là thắng lợi gặt hái được trong cuộc Pleime phản công vào mật khu Chuprong-Iadrang là nhờ nắm vững tình hình địch.
2. Lùa các Quân Lính Địch về Mật Khu Chupong-Iadrang. "Lùa quân lính địch?! Chưa từng nghe điều này tại West Point!" Sứ mạng tiên khởi trao cho Lữ Đoàn 1 Không Kỵ trong giai đoạn 2 của chiến dịch Pleime là truy đuổi hai Trung Đoàn 32 va 33 trên đường lội bộ rút lui về mật khu Chupong-Iadrang, “tìm và diệt” trong cuộc hành quân All the Way. Nhưng chẳng mấy chốc trở nên hành quân “lùa địch”, nhằm thu vén các đơn vị tản mác về cùng một địa điểm với mục đích tiêu diệt chúng một các hữu hiệu bằng oanh tạc B-52. Tới giờ phút này, mọi người, ngay cả các sĩ quan cao cấp Mỹ từng trực tiếp hoặc gián tiếp tham dự vào công cuộc thực thiện cuộc hành quân này và các học giả và sử gia về Cuộc Chiến Việt Nam, đều ngỡ tưởng là khái niệm hành quân tựu trung là “tìm, ghim và tiêu diệt địch quân với các cuộc xung kích trực thăng vận”. Nếu đúng thật như vậy thì Sư Đoàn 1 Không Kỵ đã không gặt hái được kết quả bao nhiêu. Các lực lượng Không Kỵ chỉ đụng độ quân địch bốn lần (Why Pleime, chương V): ngày 1/11, tại bệng xá Trung Đoàn 33, tổn thất địch: 299 chết và bị thương, 44 bị bắt; ngày 3/11, phục kích Tiểu Đoàn 8/Trung Đoàn 66 tại Chu Prong, tổn thất địch: 312 chết; ngày 6/11, đụng độ với Tiểu Đoàn 6/Trung Đoàn 33 tại sông Ia Meur, tổn thất địch: 477 chết và bị thương; ngày 14/11, đụng độ với hai Tiểu Đoàn 7 và 9 thuộc Trung Đoàn 66 tại bãi đáp X-Ray, tổn thất địch: khoảng 1800 chết, 6 bị bắt; ngày 17/11, đụng độ với Tiểu Đoàn 8/Trung Đoàn 66 và Tiểu Đoàn 1/Trung Đoàn 33 tại bãi đáp Albany, tổn thất địch: 503 chết. Theo Coleman, cuộc hành quân All the Way do Lữ Đoàn 1 Không Kỵ thực hiện là một “cuộc bát bộ trong công viên” không nhọc nhằn gì (Coleman, trang 189):
Cũng thêo Coleman, sau khi Lữ Đoàn 3 Không Kỵ thay thế Lữ Đoàn 1 Không Kỵ và thực hiện hành quân Silver Bayonet I lùng kiếm địch quân tại phía đông, các đơn vị của lữ đoàn này chỉ bắt gặp các hố giếng khô cho đến khi quay đầu trở lại phía tây và nhảy vào LZ X-Ray (Coleman, trang 196):
Thành thử, Đại Tá Hiếu không mấy quan ngại khi các đơn vị không kỵ Mỷ không khám phá mấy nhiều đơn vị địch quân trên đường rút lui từ Pleime đến Chu Prong, và chủ yếu chỉ bận tâm tập trung vào việc theo dõi các vận chuyển và vị trí của các đơn vị địch quân, tường otoán nhỏ chí lớn, nhẫn nại chờ đến lúc chúng tụ tập lại tại Chu Prong và tiêu diệt chúng bằng oanh tạc trải thảm B-52. = Chuyện Bên Lề: Chỉ Huy và Chỉ Đạo trong cuộc Hành Quân Pleime Phản Công. Trong giai đoạn 2 của chiến dịch Pleime mà người Mỹ gọi là Long Reach operation lúc ban đầu và Pleiku campaign lúc sau Đại Tá Hiếu – qua trung gian Tướng Larsen – nắm phần chỉ đạo, Tướng Kinnard và Tướng Knowles nắm phần chỉ huy. Ngày 7/11 (Coleman):
Ngày 13/11 (Coleman):
Ngày 14/11 (Coleman):
Ngày 16/11 (Cochran):
- (Cochran, Alexander S., "First Strike at River Drang", Military History, Oct 1984, pp 44-52, Per. Interview with H.W.O Kinnard, 1st Cavalry Division Commanding General.) - (Coleman, J.D., "Pleiku, the Dawn of Helicopter Warfare in Vietnam", St. Martin’s Press, New York) = Chuyện Bên Lề : Đại Tá Hiếu và Tướng Larsen Khi trại Pleime bị tấn công ngày 19 tháng 10 năm 1965, Đại Tá Hiếu, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn II xin Tướng Larsen, Tư Lệnh First Field Force Vietnam, tăng cường quân số. Tướng Larsen chất vấn về quyền lực và khả năng chỉ huy của Đại Tá Hiếu (G3 Journal/IFFV):
Dần dà Tướng Larsen nể trọng viễn kiến và tài năng chỉ huy của Đại Tá Hiếu trong công cuộc tiếp cứu trại Pleime và hậu quả là ông hoàn toàn chấp thuận khái niệm hành quân của Đại Tá Hiếu trong cuộc Pleime phản công và mật khu ‘Chu Prong và Ia Drang. Lẽ dĩ nhiên, Đại Tá Hiếu tinh khôn đủ để núp bóng đàng sau Tướng Vĩnh Lộc trong khi hành xử với tất cả các sĩ quan cao cập Mỹ. Đại Tá Hiêu quả là một tham mưu trưởng độc nhất vô nhị! Sau này, Đại Tá Hiếu được chỉ định làm Tư Lệnh Sư Đoàn 22 Bộ Binh và tiếp tục có dịp làm việc mật thiết với Tướng Larsen rồi Tướng Peers, người kế vị Tướng Larsen tại bản doanh I Field Force Vietnam. 3. Nghi Binh Dụ Địch Tấn Công Bộ Tư Lệnh Mặt Trận B3 sa vào thế nghi binh Lữ Đoàn 3 dụ khiến cho lấy quyết định tấn công lại Pleime ấn định vào ngày 16 tháng11. Lần này trưng dụng cả ba Trung Đoàn 32, 33 và 66, cộng thêm
Trong năm ngày kế tiếp, cho tới ngày 13/11,
Và ngày 13,
Đã đến lúc gọi oanh tạc B52 tới. Tuy nhiên, để dụ Mặt Trận B3 kéo dài thời gian duy trì các toán quân tại các vùng dàn quân, Đại Tá Hiếu nghĩ ra kế nghi binh khiến địch điều chỉnh lại mục tiêu chú ý từ Pleime qua LZ X-Ray bằng cách tung một tiểu đoàn không kỵ vào “địa điểm 3 cây số đông bắc Chu Prong, 200 thước cách vị trí Tiểu Đoàn 9/Trung Đoàn 66” (Tướng Nguyễn Hữu An) ngày 14/11. Khi thấy Tiểu Đoàn 1/7 đổ bộ tại LZ X-Ray, Mặt Trận B3 ”ra lệnh đình trệ tấn công Chu Hô”, và quy hướng chú ý về phía đơn vị mới xuất hiện. Làm thế, Mặt Trận B3 giữ các toán quân tập trung tại vùng dàn quân liên hệ. Một lý do khác cho việc lựa chọn ngày 14/11 để đổ Tiểu Đoàn 1/7 vào là để tránh các hỏa lực chết người của các súng phòng không 14,5 ly có thể bắn hạ tất cả mọi chiếc trực thăng vận chuyển quân và của bích kích pháo 120 ly có thể banh xác lính bộ binh trước khi xung phong. Sứ mạng chính trao cho Tiểu Đoàn 1/7 Không Kỵ là đánh lạc hướng chú ý của địch quân và đặt vị trí nút chận tại chỗ. Nếu địch quân lấy quyết định án binh bất động, thì tốt và sẽ là mồi ngon cho oanh tạc B52. Nếu địch lấy quyết định tấn công, thì bắt chặt phòng tuyết để cho phép B52 oanh tạc nhưng nơi đã ấn định. Khi chỉ có Tiểu Đoàn 9/Trung Đoàn 66 xấn tới tấn công, chỉ có một tiểu đoàn không kỵ, tiểu Đoàn 2/7, được phái tới tăng cường, thay vì dồn đống tăng cường quân số ào ạt, để tránh Mặt Trận B3 xua Trung Đoàn 32 và 33 vào tham chiến, thì sẽ hủy hoại kế hoạch dùng oanh tạc B52, vì lẽ quân lính bạn và thù sẽ kề sát bên nhau. Và do đó,
Ngày hôm đó, 18 phi xuất được thực hiện, và
Ngày 17/11, hai tiểu đoàn không kỵ được lệnh từ bỏ LZ X-Ray để cho phép B52 oanh tạc mục tiêu ngay chính bãi đáp. Và do đó, - bằng cách không cho phép Tiểu Đoàn 1/7 càn quét về phía tây lùng kiếm địch quân, thay vào đó là giữ an ninh cho phòng tuyến tại bãi đáp; - bằng cách chỉ tăng cường một tiểu đoàn, Tiểu Đoàn 2/7, thay vì dồn đống quân số ào ạt khi địch quân chấp nhận giao tranh; - bằng các hoán chuyển các đơn vị ngày 16/11, thay vì tăng trưởng quân số hiện diện tại bãi đáp; - bằng cách để cho hai tiểu đoàn, Tiểu Đoàn 2/7 và 2/5, tiếp tục bảo vệ bãi đáp, thay vì di chuyển về phía tây truy đuổi tàn quân của địch quân đang rút lui; - bằng cách không hoàn toàn và nhanh chóng rút ra hai tiểu đoàn bằng trực thăng ngày 17/11, thay vì ra lệnh hai tiểu đoàn này chậm rãi rảo bước theo hướng tây bắc để nhường chỗ cho B52 oanh tạc tại bãi đáp; bằng tất cả các thế điều quân trên, Tướng Knowles – hay ai đó đàng sau ông - chứng tỏ là ý đồn dùng bộ chiến tấn công vào chận rặng núi Chu Prong được thực hiện như là một thế nghi binh đánh lạc hướng chú ý địch quân, chứ không
Tổn thất địch gây nên bởi oanh tạc B52 lên tới khoảng 2000 chết. = Ai làm phận sứ dình dập? Đại Tá Hiếu. = Ai bật đền xanh cho mở màn cho từng giai đoàn điều quân – lùa, khiển dụ, đánh lạc hướng chú ý, oanh tạc B52? Đại Tá Hiếu. Như vậy là khái niệm hành quân xử dụng oanh tạc B52 làm nỗ lực chính và bộ chiến của Sư Đoàn 1 Không Kỵ làm nỗ lực phụ hỗ trợ. Tướng Kinnard nhầm lẫn hoàn toàn khi ông viết (Pleiku Campaign, trang 93):
Sự nhầm lẫn của Tướng Kinnard là một dấu chỉ khái niệm hành quân của cuộc phản công Pleime vào mật khu Chuprong-Iadrang phát xuất từ Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II thay vì từ Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Không Kỵ. Chuyện Bên Lề: Sự thành công do việc thực hiện khái niệm hành quân của cuộc phản công Pleime chứng minh là sự hiểu biết minh bạch của khái niệm đó không nhất thiết phải được chuyển đạt đến các chỉ huy trưởng các cấp từ trên xuống dưới. Điều thiết yếu là người nghĩ ra khái niệm biết đúng cách xử dụng từng đơn vị chiến đấu tham dự vào trận chiến một. Chỉ người trên đỉnh là phải suy nghĩ, phần còn lại chỉ phải thi hành theo khả năng mà không cần phải suy tính. Do đó, không hề hấn gì khi Trung Tá Hal Moore bị đặt vào một tình huống ông không có thì giờ suy nghĩ, chỉ biết có phản ứng theo như ông đã được huấn luyện. 5. Hành Quân Triệt Tiêu Ngày 17 tháng 11, Tướng Kinnard muốn Lữ Đoàn 2 Không Kỵ của mình truy đuổi tàn quân địch tới tận biên giới Căm Bốt (Cochran):
Nhưng đó không phải điều Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II muốn. Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II muốn tự tay mình làm lấy công việc này và chỉ nhờ Sư Đoàn 1 Không Kỵ thiết lập một căn cứ hỏa lực mới gần biên giới Căm Bốt tại LZ Crooks để yểm trợ pháo binh cho Lữ Đoàn Dù VN thực hiện cuộc hành quân Thần Phong 7 nhằm triệt tiêu hai Tiểu Đoàn 635 và 334 còn sống sót của địch; Lữ Đoàn 2 Không Kỵ đóng trong vai trò trừ bị (hành quân Silver Bayonet I), với sứ mạng chính là bảo vệ căn cứ hỏa lực LZ Crooks (Pleime, chương VI):
Đại Tá Hiếu không lệ thuộc vào Sư Đoàn 1 Không Kỵ để được cung cấp trực thăng chuyển vận quân lính của năm tiểu đoàn dù vào vùng hành quân. (Tôi thắc mắc Đại Tá Hiếu có yêu cầu nhưng bị từ chối?) Công vụ này được 52d Aviation Battalion đảm nhiệm:
Khi kêu gọi đến Lữ Đoàn Dù, Đại Tá Hiếu đã sắp xếp chu đáo mọi sự cho Trung Tá Ngô Quang Trưởng. Trung Tá Trưởng không phải giơ lên một ngón tay để làm bất cứ gì liên quan đến việc chuẩn bị, tuy tính, đặt kế hoạch, vạch bản đồ, thu xếp, hết thay thảy; ông chỉ việc vác xác đến và thi hành mệnh lệnh của Đại Tá Hiếu và thành công phục kích địch hai lần. Ngay cả mọi thế điều quân tác chiến tại chiến trường đều được Đại Tá Hiếu mớm ý cho (G3 Journal/IFFV, ngày 19/11/1965 lúc 16:55G)
Trung Tá Ngô Quang Trưởng thực hiện cuộc hành quân Thần Phong 7 một cách thật lạ kỳ dưới sự chỉ đạo kín đáo nhưng cứng rắn của Đại Tá Hiếu khiến Thiếu Tá Schwarzkopf phải há hốc miệng kinh ngạc trong suốt cuộc hành quân! (Nét Ngây Ngô của Tướng Schwarzkopf Trong Trận Đánh Ia Drang) 4. Nghệ Thuật Khắc Phục Con Ngựa Chứng = Khi Đại Tá Hiếu, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn II, xin tăng cường quân số để tổ chức một lực lượng tiếp cứu trại Pleime, Tướng Larsen phái cho Task Force Ingram, gồm Tiểu Đoàn 2/12 Không Kỵ và một tiểu đoàn pháo binh. Nhưng Tướng Kinnard lại tham muốn đóng một vai trò quan trọng hơn và đem lên trọn cả một Lữ Đoàn 1 Không Kỵ chỉ huy bởi Tướng Knowles. Và Tướng Knowles thì đòi có toàn quyền (Coleman, trang 87):
- Đại Tá Hiếu đã chế ngự tính hiếu thắng của Tướng Knowles bằng cách buộc ông phải chấp nhận vào khuôn phép trong vai trò yểm trợ giữ an ninh cho thành phố Pleiku. = Sau khi giải tỏa trại Pleim, Tướng Kinnard/Knowles muốn truy đuổi các toán quân tháo lui của địch (Coleman, trang 99):
- Đại Tá Hiếu buộc phải buộc giây cương vào cổ Tướng Kinnard/Knowles với phương thức làm việc chung như sau(Why Pleime, trangVIII):
Tướng Kinnard có ý kiến riêng trong việc thực hiện hành quân chống du kích chiến (Cochran):
Và làm sao áp dụng chiến thuật tấn kích trực thăng vận mà ông đã khai triển:
Trong một khoảng thời gian, Đại Tá Hiếu để cho Tướng Knowles tha hồ tung hoành trong vùng đất rộng lớn trải dài từ Pleime đến Chu Prong lùng kiếm địch quân, biết rằng ông sẽ không tài nào niêm phong được một khu vực với chiều kích 40 cây số x 50 cây số bao phủ bởi rừng rậm, ngay cả với trên 500 chiếc trực thăng và với ba lữ đoàn không kỵ, và ông sẽ không tài nào tìm ra và bắt được các con chồn Việt Cộng nhanh chân lủi chốn vào bụi rậm. Đại Tá Hiếu không mấy quan ngại, vì có cao kiến hơn để đối phó với một địch quân đang lẩn trốn: dình dập chúng, lùa chúng vào một địa điểm, rồi đánh vùi dập chúng với bom trải thảm B52. * Do vậy, ngày 8/11, Đại Tá Hiếu khiến Tướng Knowles quay đầu từ hướng tây sang hướng đông, mà không giải thích gì. * Thế rồi đến ngày 12/11, Đại Tá Hiếu lại khiến Tướng Knowles trở đầu về lại hướng tây, với một lời giải thích mơ hồ: để khiển dụ địch quân tấn công trở lại. * Rồi, không một lời giải thích rõ rệt – chỉ duy là một cuộc hành quân thông lệ, Tướng Knowles được lệnh đổ một tiểu đoàn quân lính tại chân rặng núi Chu Prong. * Ngày 16/11, Tướng Kinnard muốn lập tức rút quân lính của ông ra khỏi LZ X-Ray, Đại Tá Hiếu buộc ông phải nán lại lâu hơn để chuẩn bị cho B52 oanh tạc ngay vào chính bãi đáp. * Ngày 17/11, Tướng Kinnard lại nôn nóng muốn xua quân truy đuổi địch quân sang tới tận lãnh thổ Căm Bốt (Cochran):
Đại Tá Hiếu một lần nữa lại phải ghìm cương lên cổ Tướng Kinnard và kêu gọi tới Lữ Đoàn Dù tới vì đơn vị thiện chiến này sẽ thực hành quân giải phẫu hữu hiệu hơn là Sư Đoàn 1 Không Kỵ. Tựu trung, tuy bề ngoài (Cochran)
Không chắc hẳn là
Có chứ, Đại Tá Hiếu biết rõ hơn. Nguyễn Văn Tín
|